Na Hang – viên ngọc xanh giữa đại ngàn

Khi lựa chọn một điểm đến vùng núi phía Bắc, người ta thường nghĩ đến những địa danh như Hà Giang, Cao Bằng, Sa Pa. Còn Tuyên Quang dường như chỉ là điểm dừng chân trên hành trình. Vốn hiểu biết ít ỏi của mình về du lịch Tuyên Quang càng khiến mình tò mò, và sau cuối là bất ngờ về vùng đất này, nơi hội tụ vẻ đẹp của phong cảnh, lịch sử, văn hóa, và con người.

Về với xứ Tuyên là về di tích lịch sử Tân Trào rực rỡ màu vàng hoa lim vang, về với Na Hang – “Hạ Long giữa đại ngàn”, về với điệu hát then, tiếng đàn tính mê say, bữa cơm cháo bẹ rau măng; về với bánh gai, bánh gấc Chiêm Hóa và hương rượu ngô thơm nồng, về với những cọn nước miệt mài những vòng quay bao đời gắn với đời sống người dân.

Rời thành phố Tuyên Quang khoảng 2 tiếng, xe dừng tại đến bến thuyền ở huyện Na Hang. Lòng hồ thủy điện Na Hang là nơi sông Gâm và sông Năng gặp nhau, dưới chân dãy núi Pác Tạ với 99 ngọn núi vẽ nên cảnh quan non xanh nước biếc khiến Na Hang được đặt tên là Hạ Long giữa đại ngàn. Ngồi trên thuyền không chỉ được sưởi nắng, đón gió trời mà còn được ngắm nhìn những cánh rừng bạt ngàn phía xa.

Thuyền lênh đênh trên lòng hồ vài giờ đồng hồ từ Na Hang sang Lâm Bình. Mình hay để ý thấy mỗi người sẽ có 1 cách khác nhau để thể hiện tình cảm với 1 vùng đất. Anh phóng viên trên tay luôn có máy ảnh để lưu lại những khoảnh khắc đẹp, chị Hương HDV có thể nói thao thao bất tuyệt về những địa điểm từ cái cây đến hòn đá, chị Misa thì cao vút giọng hát trong bài “Tâm tình người con gái Na Hang”. Cùng là tình yêu với 1 thứ, nhưng có nhiều cách diễn đạt khác nhau, không nhất thiết phải nói ra bằng lời. Mình cũng thích ngắm nhìn mọi người trong trạng thái say mê điều gì đó. Bởi lúc ấy, họ đáng yêu làm sao. 

Thuyền dừng trước lối lên đền Pác Tạ. Đó là một khoảng đất rộng có những bông hoa tím đung đưa trong gió. Phía trước mặt là một khoảng không gian bao la.

Chiều hôm đó, con thuyền chở những lời ca tiếng hát: “Thương anh như 99 ngọn núi Nhớ anh như núi Pác Tạ, anh ơi.” Con thuyền còn chở cả những câu chuyện để hiểu hơn nỗi đau mà ngành du lịch đã và đang gánh phải, hiểu nỗ lực của địa phương trong bài toán phát triển du lịch bền vững, đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn đi đôi bảo vệ môi trường và các giá trị truyền thống. Sau tất cả, con thuyền cũng ngập tràn tiếng cười. Cuộc đời đẹp không phải chỉ toàn những lấp lánh, mà trong thời khắc gian truân nhất, vẫn nở những khát khao.

Mình thích màu xanh của tự nhiên. Và còn gì tuyệt khi đến 1 nơi mà chỉ cần ngước mắt lên nhìn là đã thấy màu xanh ùa từ đường mắt vào tận tim chứ. Những mảng xanh khác nhau đan xen: xanh nước, xanh cỏ, xanh rừng. Ven bờ, những chú bò đang thung thăng gặm cỏ. Chiếc áo rừng được dệt lên những mảng vàng hoa lim vang, loài hoa tháng 4 của xứ Tuyên.

Thuyền dừng ở bến trước đường lên thác Khuổi Nhi. Từ trên cao nhìn xuống, từng mô đất phủ cỏ xanh nhô ra như những bàn chân khổng lồ, nước bao quanh. Đoạn đường lên thác Khuổi Nhi nhiều đá lổm chổm, nhưng không quá dốc, tương đối dưỡng sinh, lại có nhiều suối nhỏ. Cứ nghe tiếng nước chảy róc rách thì chỉ có muốn ở đó luôn thôi. Chỉ cần ngâm chân dưới nước là cá tụm lại cắn. Mọi người thì lên đỉnh thác để tắm, còn mình được cá massage sướng quá nên ngồi đó cả buổi.

Rời thác, thuyền tiếp tục xuôi theo dòng nước hướng về Lâm Bình. Đi đến giữa lòng hồ thủy điện có một mỏm đá tách biệt với núi, nhô lên trên nước biếc, gọi là Cọc Vài (tiếng Tày – nghĩa là cọc buộc trâu). Sở dĩ gọi là cọc buộc trâu vì gắn với sự tích chàng Tài Ngao, buộc trâu ở đây khi vác đá đắp đập ngăn nước giúp dân.

Đi tiếp một đoạn nữa, cả thuyền bắt gặp 1 bãi cọ. Mình nghe kể đây vốn là 1 bãi cọ xòe ô xanh mướt, nhưng nước lên ngập làm úng chết lá. Mùa này nước cạn rút xuống để lại 1 bãi cỏ xanh rì cùng những gốc cây khô trơ trọi.

Thuyền tiến lại 1 mô đất nhỏ được ví von là đảo khủng long. Một tác phẩm được tạo nên bởi gió, nước và đất đá với hình thù, hoa văn độc đáo khác nhau.

Ngồi trên thuyền, phóng tầm mắt ra xa phía ven bờ, thỉnh thoảng bắt gặp những căn nhà lá nép dưới sườn dốc, lênh đênh trên nước. Được biết, người dân khi hồ chưa có nước sống ở đây. Sau này, vì quen ở đó nên họ quay lại làm nhà tạm để sinh sống nuôi tôm cá, nuôi vịt, trên bờ chăn bò, chăn dê.

Sau khi thưởng ngoạn phong cảnh trên mặt hồ, thuyền cập bến tại bến Lâm Bình. Những chiếc thuyền với màu sắc khác nhau nổi bần bật giữa trời nước bao la.

Sau đó, xe về xã Lăng Can, huyện Lâm Bình. Đến 1 đường làng bê tông nhỏ lúc mặt trời tròn vành vạnh chuẩn bị khuất núi thì xe dừng. Trên đường trẻ con đạp xe vui rối rít, dưới suối, mấy em bé nghịch nước.

Những bánh xe khổng lồ cần mẫn, miệt mài từng vòng quay ngày đêm bên suối là cọn nước mà người Tày ở đây tự chế tạo từ tre nứa để đưa nước vào ruộng lúa. Cọn nước từ bao đời đã gắn với cuộc sống của người dân vùng cao. Để tạo ra những “công trình” này, bà con cũng phải thật tỉ mỉ trong từng khâu để có thể tính toán chính xác làm sao nước được đưa đúng vào máng dẫn vào ruộng.

Dạo một vòng quanh thôn Nặm Đíp, vùng được định hướng phát triển du lịch cộng đồng nên khá nhiều homestay. Tre nứa xuất hiện rất nhiều trong đời sống của người dân.

Buổi tối sau bữa cơm với các đặc sản địa phương là đêm văn nghệ với điệu hát then, tiếng đàn tính của người Tày và đêm lửa trại. Văn hóa nơi đây đa dạng mà mình nghĩ vài chuyến đi chưa chắc đã tìm hiểu hết.

Xuân Phương

Leave a comment